Hiển thị các bài đăng có nhãn Thế giới đó đây. Hiển thị tất cả bài đăng
[News] Thành công đầu tiên trong việc đưa thuốc qua hàng rào máu não người.
Nguồn: Science Alert | Dịch: helhekit
Lần đầu tiên, các nhà nghiên cứu đã thành công trong việc vượt
qua hàng rào máu não của não người, điều này đem đến cho các bác sĩ khả năng điều
trị bằng các loại thuốc trước đây vốn không thể tiếp cận đến các phần của não.
Hàng rào máu não là một mạng lưới các tế bào tách não khỏi
phần còn lại của cơ thể, ngăn ngừa chất độc hại và các hóa chất trong máu xâm
nhập vào mô não. Cơ chế ngăn chặn này khiến chúng ta rất khó điều phối thuốc đến
não trong các trường hợp điều trị rối loạn thoái hóa thần kinh và ung thư (não).
Các nhà khoa học đã thành công trong việc vượt qua hàng rào
bảo vệ này trên động vật nhưng chưa bao giờ thực nghiệm trên con người, cho đến
ngày nay. CarThera - một công ty khởi nghiệp chuyên về y tế ở Pháp, đã mở và
đóng hàng rào tùy ý với sự giúp đỡ của các thiết bị siêu âm não cấy ghép xuyên
sọ (ultrasound brain implant) và tiêm microbubbles (các bong bóng có đường kính
nhỏ hơn một mm, nhưng lớn hơn một micromet, phản xạ tốt sóng siêu âm).
Tuần trước, những khám phá này đã được trình bày tại hội nghị
chuyên đề về siêu âm khai mạc ở Mỹ bởi Michael Canney , một nhà thần kinh học trực
thuộc CarThera. Nghiên cứu tập trung vào việc điều trị u nguyên bào thần kinh đệm (Glioblastoma)
- hình thức nguy hiểm nhất của ung thư
não - trên bốn bệnh nhân. Bệnh nhân bị u nguyên bào thần kinh đệm thường cần được
phẫu thuật để cắt bỏ khối u, sau đó họ sẽ phải dùng thuốc hóa trị để tiêu diệt
bất kỳ tế bào ung thư nào còn sót lại. Các hàng rào máu não yếu đi khi một khối
u xuất hiện, do đó, chỉ một lượng thuốc nhỏ có thể xâm nhập vào não.
'Nếu có nhiều loại thuốc hóa trị có thể vượt qua hơn, việc
tiêu diệt tế bào ung thư sẽ còn hiệu quả hơn' Canney phát biểu, theo ghi nhận từ
Chris Weller của tờ Medical Daily.
Để mở đường qua hàng rào máu não, các bác sĩ phẫu thuật đầu
tiên đưa vào não một thiết bị siêu âm cấy ghép xuyên sọ nhỏ trong hộp sọ bệnh
nhân. Sau đó, họ tiêm microbubbles, vốn có tính hồi âm, theo tính toán từ trước
nhằm phản ứng lại với các hiển thị siêu âm. Khi sóng siêu âm tương tác với các
bong bóng, chúng làm các bong bóng rung động, đẩy các tế bào của hàng rào máu
não sang một bên. Để xác nhận các quan sát trên, kiểm tra bằng MRI cho thấy
microbubbles mở đường qua hàng rào máu não không mấy khó khăn.
'Mong muốn của chúng tôi là các thuốc hóa trị liệu sẽ ra vào
não theo cách như trên' Canney phát biểu, ghi nhận từ Helen Thomson của tờ New
Scientist.
Ước tính phương pháp mới có thể giữ hàng rào máu não mở đến
sáu giờ, đủ thời gian để cung cấp liều lượng hợp lý của các loại thuốc .
Phương pháp mở lối qua hàng rào máu não này khi thực nghiệm
trên động vật đã chỉ ra rằng có xác suất sẽ loại bỏ được các mảng bám protein
trên bệnh nhân Alzheimer. Canney và đồng nghiệp sẽ quan sát thêm các tương tác,
và nghiên cứu sâu hơn sự tham gia của hệ thống miễn dịch trong những trường hợp
trên.
'Chúng tôi tin rằng sẽ sớm có một bước tiến lớn trong điều
trị các khối u não' Canney phát biểu, ghi nhận từ Helen Thompson của tờ New
Scientist.
[News] Mĩ: Cập nhật các quy định mới về chia sẻ dữ liệu gen
Nguồn: Nature.com | Người dịch: helhekit
Những thay đổi làm rõ các thủ tục pháp lý về việc dữ liệu
nghiên cứu của những người tham gia
trong các nghiên cứu được NIH tài trợ có thể được sử dụng như thế nào.
Richard Van Noorden
1/9/2014
NIH (Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ) bắt đầu áp dụng quy định mới. Theo đó các dữ liệu thao
tác trên gen của các nghiên cứu được tài trợ bởi NIH phải được gửi lên lên cơ sở
dữ liệu trực tuyến để những người khác có thể nghiên cứu dựa trên các thông tin
này.
Sự thay đổi này tiếp tục mở rộng thẩm quyền của một chính
sách chia sẻ dữ liệu trước đó, dự kiến sẽ không ảnh hưởng quá lớn tới các nghiên
cứu thực tiễn - nhiều nhà nghiên cứu gen đã quen với việc chia sẻ dữ liệu của họ.
Tuy nhiên theo chính sách mới nhất ra ngày 27 tháng 8, sẽ có những chỉ dẫn rõ
ràng về việc đạt được sự đồng thuận giữa các thành viên trong nhóm nghiên cứu
và các đối tượng nghiên cứu là con người. NIH đòi hỏi các nhà nghiên cứu chính
nói rõ với các cộng sự của họ rằng dữ liệu nghiên cứu của họ có thể được chia sẻ
rộng rãi cho các nghiên cứu khác trong tương lai.
Các dữ liệu phải được đối tượng nghiên cứuđồng ý công khai sẽ không chỉ là dữ liệu di truyền, mà
còn áp dụng cho các dòng tế bào hay các mẫu lâm sàng như các mẫu mô, ngay cả
khi thông tin xác định trực tiếp nguồn gốc không còn. Đó là phần mở rộng mà NIH
từng không yêu cầu, là “một bước tiến lớn”, Ellen Wright Clayton, một nhà Đạo đức học sinh vật và luật sư tại Đại học
Vanderbilt ở Nashville, Tennessee phát biểu.
NIH đã có lộ trình thay đổi từ từ trong nhiều năm, phù hợp với
các bước tiến công nghệ vốn đang nhanh chóng làm cho việc thu thập, phân tích
và chia sẻ dữ liệu về gen dễ dàng và rẻ hơn. Ngay cả thông tin bị khóa , hoặc
không xác định, dữ liệu đôi khi vẫn có thể được truy nguồn từ các cá nhân cung
cấp chúng.
“Tôi có một chút ghen tị khi nghĩ tới viễn cảnh, rằng cách
này hay cách khác, dữ liệu nghiên cứu về con người và các mẫu sinh học đang ngày càng được sử dụng
theo cách hiệu quả nhất “ Hank Greely, Giám đốc Trung tâm Luật và Khoa học Sinh
học tại Đại học Stanford ở California phát biểu. “Các đối tượng nghiên cứu cần
được biết quyền lợi của họ – thông báo cho họ về việc dữ liệu sẽ được chia sẻ rộng
rãi là một hướng đi đúng đắn.
Việc sử dụng các dữ liệu sinh học của bệnh nhân cho các mục
đích không được tiết lộ trước đây đã từng là chủ đề của không ít các cuộctranh
luận cấp cao. Trong năm 2010, các bộ lạc Havasupai ở Arizona đã buộc Arizona State University bồi thường 700.000
USD khi mẫu máu ban đầu được cung cấp cho một nghiên cứu về bệnh tiểu đường lại được sử dụng trong nghiên cứu về các các
nghiên cứu về sức khỏe tâm thần và nghiên cứu y tế theo đặc điểm dân cư [nhóm
tuổi, giới tính…].
Vào năm 2013, một cuộc tranh cãi đã nổ ra xung quanh các nghiên
cứu sử dụng bộ gen của các tế bào HeLa, một dòng tế bào nuôi cấy mô có nguồn gốc
từ Henrietta Lacks năm 1951. Những người thân còn sống của Henrietta đã không
được tham khảo ý kiến trước khi dữ liệu bị công khai, giám đốc NIH Francis
Collins đã đích thân gặp mặt để thảo luận về các mối quan tâm của họ và tán
thành với các đề xuất về nguyên tắc làm
thế nào các nhà khoa học có thể được truy cập vào dữ liệu.
“Những bài học được rút ra ở đây là bạn cần nhận được sự đồng
thuận - không thể dựa vào các loại thông tin không xác định còn vô danh” Yaniv
Erlich phát biểu; ông là một nhà tin-sinh vật học tại Viện Nghiên cứu y sinh Whitehead thuộc Cambridge, Massachusetts, người
đứng đầu một nghiên cứu về khả năng truy
nguyên chủ thể của dữ liệu ẩn danh.
Một số nhà nghiên cứu nói rằng NIH đã có khả năng xác định
nhiều hơn về các mức độ khác nhau của sự đồng thuận. “Chúng tôi hy vọng sẽ nhận
được khoảng giới hạn từ NIH, tạo điều kiện cho một cá nhân sẵn sàng mở rộng sự
đồng ý của họ trong tương lai, hoặc được lựa chọn [ khi cho phép một số nghiên
cứu đặc biệt được sử dụng dữ liệu] trong suốt quá trình nghiên cứu,” Heather
Pierce, Giám đốc cấp cao của chính sách khoa học tại Hiệp hội các trường Cao đẳng
Y khoa Hoa Kỳ tại Washington DC phát biểu. “ Tuy nhiên NIH không thể không thừa
nhận rằng có những vấn đề mới cần được xem xét”.
Các quy định trên đã mở rộng hiệp định năm 2007 về việc chia
sẻ dữ liệu từ các nghiên cứu di truyền liên kết trong công cuộc tìm kiếm các biến
thể di truyền liên quan đến đặc điểm gen và bệnh . Bắt đầu từ tháng 1 năm 2015,
các chính sách tương tự sẽ áp dụng cho nhiều loại dữ liệu di truyền khác, chẳng
hạn như thông tin từ các nghiên cứu cách thức biểu hiện của một gen, cũng như
trình tự tập hợp mở rộng RNA ( transcriptome- tập hợp của tất cả các phân tử RNA,
bao gồm cả mRNA, rRNA , tRNA , và các ARN không
mã hóa được hình thành tại một hoặc một nhóm tế bào nhất định) và cả các bộ
gien phi nhân loại. “Nhiều nhà nghiên cứu đã cung cấp dữ liệu vào cơ sở dữ liệu
di truyền của chúng tôi”, Dina Paltoo, giám đốc của chương trình di truyền học,
y tế và xã hội tại Văn phòng Chính sách Khoa học của NIH cho biết.
Có nhiều ý kiến khác nhau về bản dự thảo chính sách sẽ công
bố vào cuối năm. Hầu hết các ý kiến cho rằng bản dự thảo sẽ ủng hộ việc chia
sẻ dữ liệu, Paltoo cho hay, nhưng có những cuộc tranh luận tỉ mỉ về thời điểm dữ
liệu được chia sẻ. NIH bị mắc kẹt với quan điểm ban đầu là dữ liệu được truy cập
ngay khi nghiên cứu được công bố, và có thể trước đó trong một số trường hợp
hãn hữu. Chính sách này không áp dụng với các nghiên cứu sở hữu ít hơn 100 bộ
gen. Erlich lo ngại rằng nếu như vậy thì dữ liệu từ các nghiên cứu liên quan đến
những căn bệnh rất hiếm gặp có thể không được chia sẻ. Tuy vậy Paltoo nói rằng
viện NIH cho phép có thể có ngoại lệ đối với các loại nghiên cứu chuyên biệt.
Việc truy cập vào nguồn dữ liệu nhạy cảm, ví dụ như hồ sơ y
tế cá nhân, sẽ được kiểm soát. Trong năm 2007, NIH tạo ra một kho lưu trữ trung
tâm với mục đích đó - Cơ sở dữ liệu Kiểu gen và kiểu hình (dbGaP) - nơi mà các khảo
sát viên có thể tải lên dữ liệu nhạy cảm, được phân loại theo sự đồng ý tái sử
dụng từ những người tham gia nghiên cứu. Cơ sở dữ liệu hiện nay bao gồm hơn 300
nghiên cứu, với 2 petabyte thông tin từ 800.000 đối tượng nghiên cứu. Các nhà
nghiên cứu ủy quyền cho một ủy ban trung ương quản lí quyền truy cập vào các dữ
liệu cụ thể. Paltoo và các đồng nghiệp đã thông cáo vào ngày 27 tháng 8 trên tạp
chí Nature Genetics là chỉ trong sáu năm, đã có hơn 2.200 nhà nghiên cứu thực
hiện hơn 17.500 yêu cầu truy cập.
Các thay đổi về quyền riêng tư và chấp thuận công khai dữ liệu
gen có thể mở rộng hơn nữa trong những năm tới. Năm 2011, Văn phòng Hoa Kỳ giám
sát nghiên cứu trên người, nơi chuyên bảo vệ các chuẩn mực đạo đức đối với các nghiên
cứu trên con người, đề xuất sửa đổi "Điều luật căn bản", một điều luật
23 năm tuổi có trách nhiệm bảo vệ chủ thể của các nghiên cứu trên con người. Một
đề nghị cho rằng cần có các biên bản chấp thuận viết tay về quyền sử dụng
nghiên cứu tất cả các mẫu vật sinh học, sẽ rất nhất quán với các quy tắc của NIH,
Paltoo cho biết thêm. Dẫu vậy, các nhà nghiên cứu vẫn đang chờ đợi những thay đổi
về "Điều luật căn bản" thực sự đi vào hiện thực.
[News] Thành công đầu tiên trong việc đưa thuốc qua hàng rào máu não người.
Người dịch: Helhekit
Lần đầu tiên, các nhà nghiên cứu đã thành công trong việc vượt
qua hàng rào máu não của não người, điều này đem đến cho các bác sĩ khả năng điều
trị bằng các loại thuốc trước đây vốn không thể tiếp cận đến các phần của não.
Hàng rào máu não là một mạng lưới các tế bào tách não khỏi
phần còn lại của cơ thể, ngăn ngừa chất độc hại và các hóa chất trong máu xâm
nhập vào mô não. Cơ chế ngăn chặn này khiến chúng ta rất khó điều phối thuốc đến
não trong các trường hợp điều trị rối loạn thoái hóa thần kinh và ung thư (não).
Các nhà khoa học đã thành công trong việc vượt qua hàng rào
bảo vệ này trên động vật nhưng chưa bao giờ thực nghiệm trên con người, cho đến
ngày nay. CarThera - một công ty khởi nghiệp chuyên về y tế ở Pháp, đã mở và
đóng hàng rào tùy ý với sự giúp đỡ của các thiết bị siêu âm não cấy ghép xuyên
sọ (ultrasound brain implant) và tiêm microbubbles (các bong bóng có đường kính
nhỏ hơn một mm, nhưng lớn hơn một micromet, phản xạ tốt sóng siêu âm).
Tuần trước, những khám phá này đã được trình bày tại hội nghị
chuyên đề về siêu âm khai mạc ở Mỹ bởi Michael Canney , một nhà thần kinh học trực
thuộc CarThera. Nghiên cứu tập trung vào việc điều trị u nguyên bào thần kinh đệm (Glioblastoma)
- hình thức nguy hiểm nhất của ung thư
não - trên bốn bệnh nhân. Bệnh nhân bị u nguyên bào thần kinh đệm thường cần được
phẫu thuật để cắt bỏ khối u, sau đó họ sẽ phải dùng thuốc hóa trị để tiêu diệt
bất kỳ tế bào ung thư nào còn sót lại. Các hàng rào máu não yếu đi khi một khối
u xuất hiện, do đó, chỉ một lượng thuốc nhỏ có thể xâm nhập vào não.
'Nếu có nhiều loại thuốc hóa trị có thể vượt qua hơn, việc
tiêu diệt tế bào ung thư sẽ còn hiệu quả hơn' Canney phát biểu, theo ghi nhận từ
Chris Weller của tờ Medical Daily.
Để mở đường qua hàng rào máu não, các bác sĩ phẫu thuật đầu
tiên đưa vào não một thiết bị siêu âm cấy ghép xuyên sọ nhỏ trong hộp sọ bệnh
nhân. Sau đó, họ tiêm microbubbles, vốn có tính hồi âm, theo tính toán từ trước
nhằm phản ứng lại với các hiển thị siêu âm. Khi sóng siêu âm tương tác với các
bong bóng, chúng làm các bong bóng rung động, đẩy các tế bào của hàng rào máu
não sang một bên. Để xác nhận các quan sát trên, kiểm tra bằng MRI cho thấy
microbubbles mở đường qua hàng rào máu não không mấy khó khăn.
'Mong muốn của chúng tôi là các thuốc hóa trị liệu sẽ ra vào
não theo cách như trên' Canney phát biểu, ghi nhận từ Helen Thomson của tờ New
Scientist.
Ước tính phương pháp mới có thể giữ hàng rào máu não mở đến
sáu giờ, đủ thời gian để cung cấp liều lượng hợp lý của các loại thuốc.
Phương pháp mở lối qua hàng rào máu não này khi thực nghiệm
trên động vật đã chỉ ra rằng có xác suất sẽ loại bỏ được các mảng bám protein
trên bệnh nhân Alzheimer. Canney và đồng nghiệp sẽ quan sát thêm các tương tác,
và nghiên cứu sâu hơn sự tham gia của hệ thống miễn dịch trong những trường hợp
trên.
'Chúng tôi tin rằng sẽ sớm có một bước tiến lớn trong điều
trị các khối u não' Canney phát biểu, ghi nhận từ Helen Thompson của tờ New
Scientist.
[News] Xem nhiều phim hành động dễ dàng khiến bạn “phát tướng”.
Nguồn: BBC | Dịch: baby_duck
Khi xem phim hành động con người sẽ tăng cân nhanh chóng, theo những nhà nghiên cứu Mỹ.
Những thử nghiệm trước đây đã chứng minh được mối liên hệ giữa chuyện xem phim và căn bệnh béo phì. Gần đây, một nhóm nghiên cứu của Cornell University đã có cuộc tìm hiểu chuyên sâu hơn để xem thể loại phim nào tạo ra ảnh hưởng xấu nhất.
Kết quả thu được, ghi nhận trên tạp chí JAMA Internal Medicine, cho thấy người ta có xu hướng ăn vặt nhiều hơn cả khi xem phim hành động.
Thường, xem TV dễ khiến chúng ta béo phì vì nó có những đoạn quảng cáo thức ăn vặt. Việc xem TV tạo cho con người thói quen thụ động và hơn cả là những chương trình thú vị kia đã “che mắt” bạn khỏi việc nhận ra rằng mình đã ăn nhiều đến bao nhiêu.
Nhai trong vô thức
Cuộc nghiên cứu được tiến hành trên 94 sinh viên. Họ được đưa những bát đựng chocolate, bánh quy, cà rốt hoặc nho trong khi xem TV.
Những nhà khoa học đã so sánh lượng thức ăn được tiêu thụ trong khi những tình nguyện viên xem bộ phim hành động năm 2005, The Island, với khi một talk show phỏng vấn.
Bảng so sánh đã chỉ rõ lượng thức ăn tiêu thụ khi xem phim hơn gấp đôi về khối lượng và hơn 65% về lượng calo so với xem talk show.
Sự khác biệt thấy được rõ ràng hơn ở nam giới.
Bài báo cáo nói rằng: “TV có khả năng khiến người ta ăn một cách vô thức và vượt qua khỏi cái “mốc” mà bình thường họ sẽ ngừng ăn.
“Khi tư vấn cho bệnh nhân, chuyên gia nên nhấn mạnh về sự nguy hiểm của việc ăn quá nhiều khi xem TV
“[Họ] có lẽ nên giải thích tỉ mỉ hơn về những nguy cơ tiềm ẩn khi xem những thể loại dễ khiến ta mất tập trung về những sự vật xung quanh cao, như xem phim hành động, dễ dẫn đến ăn quá mức.
“Khi xem những thể loại như thế này, tốt nhất nên để đồ ăn vặt ngoài tầm tay”
[News] 14 sự thật về pháo hoa.
Nguồn: Smithsonian.com | Dịch: Mèo Bông
Tương tự như mọi khi, Lễ Độc Lập năm nay cũng chắc chắn sẽ có những bữa tiệc trình diễn pháo hoa hoàng tráng. Đã từ rất lâu rồi, những chùm pháo hoa lộng lẫy đã trở thành nhân tố làm kinh ngạc khán giả khắp thế giới, và nếu những hình ảnh phía trên là đúng, pháo hoa cho lễ mừng năm nay vẫn sẽ tuyệt vời như các đàn anh đi trước của nó.
Và dưới đây là 14 thông tin lịch sử và khoa học thú vị về pháo hoa:
1. Người Trung Hoa cổ đốt pháo để dọa người rừng.
Vào năm 200 trước Công Nguyên, người Trung Quốc vẫn còn viết trên những thẻ tre và dùng than đá hơ khô chữ. Đôi lúc họ hơ quá đà, các thẻ tre nóng lên và cuối cùng vỡ ra, tất nhiên là có kèm theo một tiếng “bụp” rõ to. Theo Scientific American, những học giả thời bấy giờ đã nhận thấy những tiếng nổ có thể đuổi những người rừng to quá khổ đi. Và thế là, pháo hoa đã chính thức chào đời. Một số thông tin còn cho rằng pháo hoa có thể xua đuổi tà ma.
2. Pháo hoa là tiền đề cho sự ra đời của những vũ khí cháy nổ.
Vào khoảng những năm 600 và 900 trước Công Nguyên, các nhà giả kim học Trung Quốc đã vô tình trộn lẫn kali nitrat với lưu huỳnh và chì than, chính là công thức thô của thuốc súng. Cũng có người tin rằng, họ đang muốn luyện ra loại đan dược trường sinh bất tử.
“Hoả dược” này dần trở thành một phần không thể thiếu trong những dịp ăn mừng, lễ tết ở Trung Hoa. Họ nhồi đầy thuốc súng vào những ống tre kể trên để tạo ra một vật dụng lấp lánh. Sau đó không lâu, hoả dược được những hỏa binh dược sư trưng dụng để chế thành chất nổ chết người. Người Trung Quốc cho áp dụng vũ khí cháy nổ lần đầu tiên vào năm 1046, dưới dạng một thạch đầu xa thô. Họ cũng nối những ống tre có nhồi thuốc nổ vào cung tiễn để tấn công kẻ thù. Ngoài ra, cũng có những thông tin về việc pháo hoa được cột vào người lũ chuột trong những chiến trường trung cổ.
3. Pháo hoa chỉ là những phản ứng hoá học.
Mỗi loại pháo hoa đều cần ba thành phần then chốt sau đây: chất oxi hoá, chất đốt và một hỗn hợp các hoá chất khác nhau để tạo ra màu sắc. Chất oxi hoá sẽ phá vỡ kết cấu hoá học bên trong chất đốt, giải phóng mọi năng lượng nằm trong các liên kết này. Để kích hoạt phản ứng hoá học, bạn chỉ cần một ít mồi lửa, hoặc có thể đốt lửa trực tiếp cũng ổn.
Theo nhà khoa học Roger Bacon tìm ra vào những năm 1200, lúc pháo hoa mới ra đời, kali nitrat là chất oxi hoá thúc đẩy phản ứng. Một chi tiết khá thú vị là Bacon đã giấu kín phát hiện này của mình bằng cách viết chúng dưới dạng mật mã, để tránh bị kẻ xấu trục lợi.
4. Những nhân tố khác nhau sẽ cho ra những màu sắc khác nhau.
Pha trộn những nguyên tố kim loại khác nhau sẽ cho ra những pháo hoa có màu sắc khác nhau. Khi một nguyên tố bị nung nóng, phân tử electron của nó bị tác động, tích tụ điện tích và cuối cùng sẽ giải phóng năng lượng dưới dạng ánh sáng. Những hoá chất khác nhau sẽ bị đốt cháy dưới những bước sóng ánh sáng khác nhau. Hợp chất stronti và lithi sẽ cho ra màu đỏ sậm, đồng cho ra màu xanh, magiê và titan tạo ra màu bạc hoặc trắn, canxi lại là “cha đẻ” của màu cam, vàng chói là tác phẩm của natri và cuối cùng, bari sản sinh ra màu xanh lá. Khi trộn hợp chất clo – bari hoặc clo – đồng sẽ lần lượt tạo ra màu xanh đèn nê-ông hoặc ánh lửa màu lam. Xanh dương là màu sắc khó tạo ra nhất. Thông thường, những viên đạn pháo hoa bằng giấy chứa những hoá chất trên sẽ được cho vào một vỏ pháo và bắn lên không trung.
5. Trung Quốc là nước phát minh ra pháo hoa, nhưng Ý mới là quốc gia chế tạo vỏ pháo (và tạo ra màu sắc cho pháo hoa).
Hầu hết những màn trình diễn pháo hoa đều sử dụng vỏ pháo – aerial shell. Vỏ pháo trông từa tựa phần xoắn ốc của cây kem. Được phát minh ra vào những năm 1830 bởi một nhà pháo hoa người Ý, nó chứa một ngòi dẫn, túi nâng và đạn pháo. Ngòi dẫn được đặt ở đáy “cây kem”, khi đốt cháy sẽ bắn thẳng vỏ pháo lên trời. Phần “kem” phía trên sẽ bao gồm một lớp những viên đạn pháo hoặc lớp hoá chất cần thiết để tạo màu mong muốn, cộng thêm một kíp dẫn bên trong. Những người Ý cũng chính là các bậc thầy đã phát hiện ra bí quyết tạo màu dựa trên bột kim loại. Ngày nay, hình dạng của pháo hoa chính là một sản phẩm dựa trên nguyên lí hoạt động của vỏ pháo hay tên lửa.
6. Marco Polo có lẽ không phải là người đầu tiên mang thuốc súng đến Châu Âu.
Marco Polo quả thật đi đến Trung Quốc và quay trở về với pháo hoa vào năm 1295, vẫn còn một vài học thuyết cho rằng những người Châu Âu đã tiếp xúc với những vũ khí cháy nổ sớm hơn một chút, vào gian đoạn của Cuộc Thập tự chinh. Vào thế kỉ thứ 9, Trung Quốc bắt đầu muốn khống chế lượng thuốc súng lưu thông sang những nước láng giềng với mong muốn giữ vững thế thượng phong trong trường hợp có tranh chấp hay chiến tranh nổ ra. Có giả thiết cho rằng những người Ả Rập đã sử dụng một số loại vũ khí cháy nổ khác nhau vào thời Chiến tranh thập tự, như vậy, thuốc súng đã có thể bắt đầu từ Con Đường Tơ Lựa lan tràn sang Trung Đông trong giai đoạn này, mặc kệ những nỗ lực to lớn nhất của người Trung Quốc trong việc độc quyền chúng.
7. “Bùm! Xì! Tách!” Công thức cho âm thanh của pháo hoa?!
Những lớp muối hữu cơ, natri salixylat, trộn lẫn với kali peclorat bị oxi hoá cháy lên cùng một lúc. Mỗi tầng hoá chất cháy sẽ giải thoát khí ga, tạo ra những tiếng huýt gió thường được nghe thấy ở những dây pháo bông. Nhôm hoặc mạt kim loại có thể tạo ra những đốm sáng kèm theo âm thanh “xì” hoặc “xèo xèo”. Bột titan lại cho ra tiếng nổ lớn và những đốm lấp lánh trắng.
8. Pháo hoa là chất độc.
Cứ nhìn vào danh sách nguyên liệu, bạn sẽ dễ dàng nhận ra rằng pháo hoa không có lợi chi môi trường. Khi nổ, chúng giải phóng kim loại mạnh, điôxin, peclorat và một số chất gây ô nhiễm không khí vào bầu khí quyển, và những chất ô nhiễm này sẽ ảnh hưởng nặng nề đến sức khoẻ nếu hít vào liều lượng lớn. Bari nitrat có thể gây ra các bệnh phổi, kali peclorat bị oxi hoá lại là tác nhân gây ra những vấn đề về tuyến giáp cũng như khuyết tật bẩm sinh.
9. Không thể tái chế pháo hoa.
Một lần nữa, với một công thức như trên, dĩ nhiên tái chế pháo hoa đã qua sử dụng không phải là một lựa chọn sáng suốt. Trước khi ném chúng vào thùng rác, tốt nhất các bạn nên nhúng phần bỏ đi ấy vào nước. Một tấm bìa các tông quá đen thì có tái chế cũng không còn giá trị sử dụng, nhưng dù sao thì bạn cũng nên kiểm tra thử với trung tâm xử lí rác thải thành phố. Nếu bạn muốn giải quyết những pháo hoa chưa dùng đến, bạn cũng nên điện thoại cho trung tâm này, vì họ có một quy trình đặc biệt chuyên xử lí chất cháy nổ.
10. Đừng lo lắng, các nhà hoá học đang phát triển các công thức pháo hoa thân thiên với môi trường.
Một vài nhóm nghiên cứu đã tìm ra những hoá chất thay thế cho hợp chất bari và kali peclorat. Một nhóm nghiên cứu tại U.S. Army’s Pyrotechnics Technology and Prototyping Division (tạm dịch: Phân khu Công nghệ Cháy nổ Nguyên mẫu của Quân đội Hoa Kì) đã phát hiện rằng, khi thay thế clo bằng iốt, natri và kali peclorat đã trở thành những chất oxi hoá an toàn và hiệu quả hơn. Nhóm này cũng đã thành công trong việc thay thế bari bằng bo. Mục tiêu của họ nhằm tạo ra chùm pháo sáng thân thiện với môi trường, có thể sử dụng trong cả mục đích quân sự và giải trí bình thường ngoài đời. Một số pháo hoa sử dụng hợp chất giàu nitơ thay thế cho peclorat đã được áp dụng vào một số màn biểu diễn nhỏ, nhưng chỗ khó là phải tạo ra một sản phẩm thay thế vừa thân thiện với môi trường, vừa càng rẻ càng tốt.
11. Hoa kì đã bắt đầu sử dụng pháo hoa để ăn mừng ngày lễ Độc Lập từ năm 1777.
Những lần ăn mừng Độc Lập đầu tiên cũng đã có sự góp mặt của pháo hoa. Theo sử gia James R. Heintze của Đại học Hoa Kì (American University), vào ngày 4/7/1777, bang Philadelphia đã tổ chức một ngày lễ cực kì công phu, bao gồm 13 màn trình diễn đại bác, một buổi diễn hành, ăn tối thịnh soạn, sựu chúc mừng, âm nhạc, màn chào bằng súng hoả mai, tiếng vỗ tay long trọng và dĩ nhiên, pháo hoa. Heintze đã trích dẫn những lời miêu tả từ quyển Virginia Gazette vào ngày 18/7/1777:
“Buổi lễ khép lại dưới những tràng chuông rung rung. Khi màn đêm buông xuống, một đại tiệc pháo hoa thịnh soạn đã bắt đầu và kết thúc bằng mười ba loạt pháo hoa. Toàn thành phố sáng lên một cách rực rỡ. Mọi thứ đều diễn ra trong những lễ nghi và trật tự tuyệt vời nhất, các khuôn mặt vui tươi và nói cười nhan nhản khắp nơi. Vì thế, mong rằng ngày 4 tháng Bảy, ngày đánh dấu chiến thắng vẻ vang và sẽ đi vào sử sách ngàn đời, sẽ được ăn mừng khắp đất nước Hoa Kì, bởi những đứa con của tự do, từ giờ cho đến mãi mãi về sau.”
12. Không phải ai cũng nên chơi pháo hoa.
Chó thì rên rỉ, mèo sẽ trốn dưới gầm giường. Lũ chim sẽ hoảng loạn đến mức bay tứ tung và đâm sầm vào mọi thứ. Trong chúng ta cũng có một số người cực độ sợ hãi pháo hoa và tiếng ồn.
13. Pháo hoa rất nguy hiểm.
Sự thật này là lẽ dĩ nhiên, nhưng một hồi chuông cảnh báo cho những kẻ dự định thử nghiệm thuật làm pháo hoa ở sân vười sau nhà vào ngày mùng 4 tháng 7 này sẽ không vô ích đâu. Năm ngoái, những tai nạn từ pháo hoa đã tăng lên, theo một báo cáo của Consumer Prodect Safety Commission (tạm dịch: Uỷ ban Sản phẩm Tiêu dùng An toàn). Trong năm 2013, có 8,700 người bị thương khi sử dụng pháo hoa, và đến năm 2013, con số này nhảy vọt lên thành 11,3000 người. Khoảng 65 phần trăm tổng số thương tích xảy ra trong vòng 30 hôm trước sau ngày 4 tháng 7. Hơn 40 phần trăm số tai nạn do sử dụng chất phát sáng và hoả tiễn. Ngoại trừ gây thương tích, pháo hoa còn có thể là một mồi lửa gây ra cháy nhà.
14. Pháo hoa là một “gương mặt thân quen” trong những màn chơi khăm.
Sau một loạt những màn chơi xỏ nhau vào năm 1731, những quan chức ở Đảo Rhode đã bác bỏ luật lệ cho phép sử dụng pháo hoa, dưới nỗ lực chấm dứt những trò đùa dai này. Bước vào những năm đầu của thế kỉ 20, the Society for the Suppression of Unnecessary Noise (tạm dịch: Hội Giảm thiểu những Tiếng ồn Không cần thiết) đã đưa ra một chiến dịch chống đối việc dùng pháo hoa (và những nhân tố gây ồn ào trong nội thành khác). Chính những nỗ lực này đã tạo ra những tiền đề rất lớn dẫn đến việc xuất hiện các đạo luật về pháo hoa đầu tiên tại Hợp Chủng Quốc Hoa Kì.




