Hiển thị các bài đăng có nhãn Sinh vật học. Hiển thị tất cả bài đăng
[News] Chó sủa, kệ lũ mèo đi.
Nguồn: Realclearscience | Dịch: Kou Togima
Hôm qua, chúng ta đã đọc bài năm lý do khoa học tại sao mèo tốt hơn chó (và cứ yên tâm là mình sẽ không dịch, LOLz).
Nhưng, dĩ nhiên, trong các cuộc tranh cãi, khoa học hiếm khi chỉ hướng về một phía. Và cuộc chiến thú cưng của chúng ta cũng không ngoại lệ, luôn có những luận cứ khoa học đáng lưu ý được cả hai phía đưa ra.
Dưới đây là năm lý do khoa học (phổ biến nhất) vì sao sở hữu một chú chó lại có lợi hơn một chú mèo.
Giúp tập thể dục
Người bạn tốt nhất của con người biết đâu lại là huấn luyện viên cá nhân tốt nhất của chúng ta.
Trong khi loài chó cần các hoạt động tiêu khiển và thể chất, tất cả những gì lũ mèo cần là thức ăn và một sofa êm ái để ngủ trên đó cả ngày. Rất thích hợp để noi gương cho con người, vui chưa!
Các nghiên cứu cũng phản ánh vấn đề này. Một nghiên cứu năm 2008 cho thấy 60% những người chủ của các chú chó có xu hướng đi dạo hơn những người chủ của lũ mèo. Mới đây, nghiên cứu từ Đại học bang Michigan (Michigan State University) cũng cho thấy những người chủ của các chú chó tập thể dục lâu hơn ba mươi phút mỗi tuần so với những người không nuôi chú nào.
Ý nghĩa đặc biệt với người già
Đồng ý rằng thú cưng nói chung là những nhân tố giải tỏa căng thẳng cho con người ở mọi lứa tuổi, song đối với những người già việc sở hữu một chú chó lại mang ý nghĩa đặc biệt hơn nhiều.
Một bài đánh giá tổng quan và nghiên cứu văn hóa xuất bản năm 2011 cho thấy chó có thể mang đến tình bạn và mục tiêu vô giá cho cuộc sống của những người già, đặc biệt là với những ai đã mất đi những người thân yêu.
"Các chú chó cho chuỗi ngày của họ một thời gian biểu cố định; công việc cho ăn và dắt chó đi dạo đều đặn giúp cho người già có cảm giác mình vẫn còn mục tiêu và trách nhiệm với ai đó... đồng thời chúng cũng có thể đóng vai trò trung gian cho những mối quan hệ xã hội được củng cố thông qua các tình huống thường ngày." Các nhà nghiên cứu viết.
Đánh hơi ung thư
Lũ mèo có khứu giác khá nhạy, nhưng lại khó huấn luyện. Những con mèo nhạy nhất cũng không sánh được với những con chó nhạy nhất.
Đó là lý do tại sao các chú chó được huấn luyện để đánh hơi mọi thứ từ bom, cho đến ma túy, và thậm chí là cả ung thư.
Đúng vậy. Loài chó đã được huấn luyện để phát hiện ra ung thư buồng trứng, ung thư phổi và ung thư tuyến tiền liệt, với độ chính xác gần 99%!
Thông minh hơn
Não lũ mèo có nhiều neuron hơn loài chó, nhưng trong hầu hết trường hợp, loài chó lại tận dụng tốt hơn, như là dẫn đường người mù hay giúp xác định vị trí nhưng người còn sống trong thảm họa.
Thêm nữa, loài chó có chỉ số EQ (Encephalization Quotient) - một số đo "cân nặng thực tế của bộ não so với khối lượng não tiêu chuẩn cho kích thước cơ thể của động vật" - cao hơn so với lũ mèo.
Một nghiên cứu của Oxford từ mấy năm trước cũng cho thấy, do bản năng xã hội của chúng, qua thời gian chó thường trở nên thông minh hơn, trong khi lũ mèo vẫn dậm chân tại chỗ.
Gắn bó với con người hơn
Lũ mèo có thể cũng có tình như loài chó, nhưng rất dễ nhận thấy là chó lại gắn bó với con người hơn.
Trên thực tế, một nghiên cứu năm 2013 cho thấy mối quan hệ giữa chó và người chủ phần nào đó khá giống với mối quan hệ giữa con cái và cha mẹ.
Loài chó và loài người đã ở bên nhau lâu hơn so với loài mèo. Loài chó được thuần hóa khoảng từ 18800 đến 32100 năm về trước, trong khi lũ mèo chỉ được thuần hóa mới khoảng 9500 năm về trước.
[News] Thiên thạch "tiêu diệt khủng long" đã đâm không đúng thời điểm.
Nguồn nature.com | Dịch: Kou Togima
Các loài vật đã có thể sống sót nếu va chạm xảy ra ở vài triệu năm trước đó hoặc vài triệu năm sau đó.
Mark Garlick/Science Photo Library
Khí hậu lạnh dần đã khiến loài khủng long có sừng bớt đa dạng đi như Triceratops. |
Ngay trước khi một thiên thạch lớn đâm vào Trái Đất 66 triệu năm trước, độ đa dạng của loài khủng long ăn cỏ đã giảm nhẹ, một nghiên cứu mới cho biết. Sự chuyển biến nhỏ đó đã đủ để cho toàn bộ loài khủng long tuyệt diệt khi thiên thạch lao xuống.
Sự khan hiếm của loài ăn cỏ sẽ khiến cho chúng dễ chết đói và số lượng suy giảm sau cú va chạm, hậu quả là ảnh hưởng mạnh đến chuỗi thức ăn.
"Thiên thạch đã đâm đúng thời điểm đặc biệt tệ." Stephen Brusatte, một nhà cổ sinh vật học ở Đại học Edinburgh, Vương quốc Liên hiệp Anh, cho hay. "Nếu cuộc va chạm xảy ra ở vài triệu năm trước hoặc vài triệu năm sau đó, các loài khủng long đã có thể được chuẩn bị tốt hơn để sống sót."
Brusatte và đồng nghiệp đã miêu tả cách nhìn khác biệt này về cuộc tuyệt chủng nổi tiếng trên Tạp chí Sinh học.
Các nhà cổ sinh vật học đã tranh cãi hàng thập kỷ về việc loài khủng long có đang phát triển bình thường khi thiên thạch đâm, hay là chúng vốn đang trải qua sự suy giảm giống loài. Để khám phá vấn đề này, cuộc nghiên cứu đã lấy thông tin từ một cơ sở dữ liệu về sự đa dạng của loài khủng long toàn cầu, bao gồm hàng trăm hóa thạch tìm thấy trong thập kỷ vừa qua.
Sự suy giảm cục bộ
Các nhà khoa học đã sử dụng các phương pháp phân tích vì trong thực tếcó một số tảng đá mang hình dạng hóa thạch đã được nghiên cứu cấu tạo kỹ lưỡng trong khi số còn lại thì không, và điều này có thể khiến các con số và sự phân bổ các giống loài khủng long trở nên không chính xác. Họ phát hiện ra hầu hết các khủng long đều phát triển mạnh ngay trước sự va chạm. "Nếu nhìn vào bức tranh toàn cảnh, chúng ta không tìm thấy chứng cớ về một sự suy giảm lâu dài." Thành viên của nhóm Richard Bullet, một nhà cổ sinh vật học ở Đại học Birmingham, Vương quốc Liên hiệp Anh, cho biết. "Không có bằng chứng xác thực rằng các loài khủng long vốn đang phải chịu cảnh tuyệt chủng và thiên thạch kia chỉ đơn giản là cú kết thúc chúng."
Song ở Bắc Mỹ, trong vòng 8 đến 10 triệu năm trước khi va chạm thiên thạch, số lượng hai nhóm động vật ăn cỏ lớn — khủng long mỏ vịt và nhóm khủng long có sừng bao gồm Triceratops — đã giảm nhẹ. Ở một vài nơi các giống loài đã bị co rút lại chỉ còn một loài. Đó có lẽ là do khí hậu lạnh đi đã làm thay đổi các giống thực vật vốn là nguồn thức ăn của chúng, Michael Benton, một nhà cổ sinh vật học ở Đại học Bristol, Vương quốc Liên hiệp Anh, cho biết. Đã có nhiều nhóm khủng long vượt qua được đợt suy giảm số lượng quy mô nhỏ trước đó, nhưng đợt này thì không.
Một nghiên cứu năm 2012 tái tạo lại mô hình mạng lưới thức ăn có thể giúp giải thích tại sao, Butler cho biết. Các mô phỏng của máy tính cho thấy chỉ một thay đổi nhỏ trong chủng loài khủng long có thể khiến cho hệ sinh thái gần như sụp đổ sau những biến động lớn về môi trường — tỉ như sự biến đổi khí hậu toàn cầu gây ra bởi cú va chạm của một thiên thạch. Các giống thực vật bị khô héo; khiến các loài khủng long ăn cỏ chết đói, và các loài khủng long ăn thịt không còn nhiều con mồi để săn.
Sẽ thế nào nếu như?
Nghiên cứu mới nhất tập hợp nhiều khám phá của những năm gần đây, David Archibald, một nhà cổ sinh vật học Đại học bang Sandiego ở California, cho biết. "Theo như ước lượng của tôi thì đa phần chúng đều rất chính xác," ông cho hay. "Ta gần như có thể chắc chắn rằng chính cú va chạm đó đã khiến cho loài khủng long tuyệt diệt." Nhưng ông không đồng ý với một vài dữ liệu. Trong một bài phê bình được Đoàn thể Địa chất Mỹ thông qua, Archibald đã so sánh hình dạng vài tảng đá ở gần cuối thời đại của loài khủng long, ở Canada và Hoa Kỳ. Ông phát hiện ra loài khủng long hai cẳng, chuyên ăn thịt theropods khi đó cũng đang suy giảm số lượng.
Brusatte cho rằng sự khác biệt là do tùy cách các nhà nghiên cứu đánh giá các tảng đá mang hình dáng hóa thạch đã được nghiên cứu và bảo quản kỹ lưỡng như thế nào. "Chỉ lúc này với tất cả các khám phá mới về loài khủng long, người ta mới có thể suy luận các chi tiết theo nhiều cách khác nhau," ông cho hay.
Cuộc tuyệt chủng đã mở đường cho thế giới hiện đại, Butler cũng lưu ý. Cho dù có một giống khủng long vẫn còn sống sót dưới hình dạng loài chim hiện đại, các loài động vật có vú chỉ bắt đầu phát triển khi các loài khủng long không còn nữa. "Điều đó sẽ không bao giờ xảy ra nếu các loài khủng long không bị tuyệt chủng," Butler cho biết, "Giả như lúc ấy thiên thạch không đâm vào, loài khủng long có lẽ vẫn sẽ tồn tại đến ngày nay."
[News] Loài khủng long mới được tìm thấy ở Maroc.
Nguồn: nature.com | Dịch: helhekit
![]() |
| Mô hình kỹ thuật số phục dựng lại bộ xương của Spinosaurus aegyptiacus, sử dụng màu sắc khác nhau để xác định nguồn gốc của mỗi xương. |
Các nhà cổ sinh vật học đã thông báo về loài khủng long ưa nước đầu tiên được biết đến trên thế giới - một sinh vật khổng lồ dài 15 mét với khuôn mặt giống cá sấu, bàn chân thích hợp để khỏa nước và một cấu trúc giống như cánh buồm nhô lên từ cột sống của nó.
Sinh vật tên Spinosaurus aegyptiacus này có mật độ xương dày đặc bất thường, có thể giúp nó lặn xuống khi săn mồi dưới nước, kết luận trong một nghiên cứu đăng trên tạp chí Science.
"Đó là loài khủng long đầu tiên cho thấy những sự thích nghi đáng kinh ngạc", trưởng nhóm nghiên cứu Nizar Ibrahim đến từ Đại học Chicago ở Illinois nói.
"Tôi không hề nghi ngờ việc Spinosaurus săn mồi trong môi trường nước là chủ yếu."
Các nhà nghiên cứu từ lâu đã nghi ngờ rằng có thể một số loài khủng long thi thoảng cũng đi săn dưới nước; nhiều loài khủng long hiện đại, dưới hình thức của các loài chim, tức là thủy cầm cũng ưa nước. Tuy nhiên, họ ít khi tìm thấy bằng chứng về đời sống thủy sinh cổ xưa ngoài các dấu chân của các con khủng long để lại ở lòng sông cổ.
Năm 2010, các nhà địa hóa học sử dụng đồng vị oxy trong xương hóa thạch để kết luận rằng Spinosaurus và các họ hàng của mình đã dành nhiều thời gian của chúng trong nước như cá sấu hoặc hà mã. Nhưng cho đến nay, những mẩu xương thu thập được không đủ để tái tạo lại hoàn chỉnh bộ xương Spinosaurus và chứng minh ý tưởng này. Nhà cổ sinh vật học người Đức Ernst Stromer đã tìm thấy một một phần bộ xương ở Ai Cập vào thế kỷ trước, nhưng các mẫu hóa thạch của ông đã bị phá hủy trong một cuộc không kích của Quân Đồng Minh vào Munich vào năm 1943.
Chiếc hộp bí ẩn
Năm 2008, trong khi Ibrahim đang khép lại chuyến thám hiểm săn hóa thạch ở Maroc, một người đàn ông tiếp cận Ibrahim tại thị trấn sa mạc Erfoud và cho ông xem một số mẩu xương đựng trong một chiếc hộp các tông. Tin rằng chúng có ý nghĩa nào đó, Ibrahim đã gửi chúng đến Đại học Hassan II tại Casablanca.
Một năm sau, trong khi Ibrahim đang đến thăm Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên của Milan, Ý, những đồng nghiệp ở đó chỉ cho ông một số mẩu xương Spinosaurus còn sót lại ở Maroc. "Tâm trí của tôi chợt lóe lên - màu sắc, kết cấu và kích thước của chúng giống hệt như những mẩu xương bí ẩn người đàn ông kia đã cho tôi xem trong hộp các tông," ông nói.
Ibrahim đã bay trở lại Maroc để tìm kiếm người đàn ông, không có gì ngoài một kí ức mờ nhạt rằng anh ta có một bộ ria mép. "Một ngày trước ngày cuối cùng ở Erfoud, chúng tôi đang ngồi tại một quán cà phê nhâm nhi trà bạc hà, và tôi nghĩ rằng tôi sẽ không bao giờ tìm thấy anh ta nữa" Ibrahim nói. "Vào thời khắc tuyệt vọng ấy, một người đàn ông cao lớn mặc trang phục trắng đi ngang qua bàn của chúng tôi, và tôi nhận ra ngay khuôn mặt đó." Ibrahim chạy theo và đã thuyết phục được người đàn ông dẫn ông đến hang động nơi anh ta đã tìm thấy các mẩu xương.
Tại đây, nhóm nghiên cứu đã khai quật được các phần còn lại của Spinosaurus và tập hợp chúng với những mẩu xương trong hộp các tông cũng như từ Milan. Từ bộ xương 97 triệu năm tuổi này, cùng với các ghi chú của Stromer về các mẫu bị phá hủy và các hóa thạch khủng long có liên quan, các nhà cổ sinh học chắp ghép các chi tiết và mô phỏng hình ảnh hoàn chỉnh nhất về Spinosaurus.
Trong số các đặc điểm thích nghi khác cho đời sống dưới nước, Spinosaurus có lỗ mũi được đặt tương đối cao trên hộp sọ của nó, có lẽ để nó có thể thở trong khi săn mồi dưới nước. Răng của nó được đan cài như một cái bẫy cá, và chi trước mạnh mẽ của nó như mái chèo trong nước. Chân của nó thậm chí có thể đã có màng, thông tin từ thành viên Simone Maganuco của bảo tàng Milan.
Những mảnh ghép
Tại thời điểm mà Spinosaurus còn tồn tại, nơi mà bây giờ là đông Maroc đã từng được bao phủ bởi hệ thống hồ lớn, các dòng sông và đồng bằng châu thổ. Là một loài ăn thịt hàng đầu, loài khủng long này từng là một trong những cơn ác mộng của hệ sinh thái đầy ắp những động vật khổng lồ như cá sấu, cá kiếm khổng lồ và cá vây tay kích thước bằng một chiếc xe.
So với các loài khủng long khác trong cùng phân bộ theropods gồm những sinh vật ăn thịt hai chân - Spinosaurus có chân sau đặc biệt ngắn. Nhóm Ibrahim giải thích điều này là có nghĩa là khủng long di chyển chủ yếu vào bốn chân. Trọng tâm sẽ dồn về phần trước cơ thể, giúp nó di chuyển dễ dàng trong khi bơi lội.
John Hutchinson, một nhà cổ sinh vật học tại Đại học Thú y Hoàng gia của Đại học London cho rằng lí thuyết trên ít thuyết phục. Ông lo lắng về độ tin cậy của việc phối hợp các mẫu vật khác nhau để tạo ra một hình ảnh duy nhất của một sinh vật. "Chúng tôi phải cẩn thận nếu không muốn tạo ra một điều hão huyền", ông nói. "Đó là giả thuyết thực sự thú vị, nhưng tôi muốn thấy thêm bằng chứng rồi mới kết luận."
Ibrahim nói rằng một vài chi tiết trên bộ xương Spinosaurus khớp với các mẫu khác nhau, chứng tỏ kết cấu giải phẫu bất thường là đúng.
Bộ xương hiện đang phục vụ nghiên cứu ở Chicago sẽ được vận chuyển về lại Casablanca vào cuối năm và sẽ thuộc về Trung tâm lưu trữ các mẫu vật khoa học của Đại học Hassan II.
[News] Khám phá mới về phương thức truyền thông tin của thực vật.
Nguồn Sci-news | Dịch: helhekit
Các nhà sinh vật học Mỹ dẫn đầu bởi Giáo sư James Westwood thuộc Khoa Bệnh học thực vật, Sinh lý thực vật và Thực vật thân thảo - Đại học Bách khoa Virginia đã phát hiện ra rằng thực vật ký sinh có thể giao tiếp với vật chủ của chúng ở cấp độ phân tử.
Giáo sư Westwood và các cộng sự đã xem xét mối quan hệ giữa thực vật ký sinh Cuscuta pentagona, thường được gọi là tơ hồng, và hai vật chủ - cải thuộc chi Arabidopsis và cà chua.
Để hút độ ẩm và chất dinh dưỡng ra khỏi cây chủ, tơ hồng sử dụng một phần phụ gọi là giác hút thâm nhập vào vật chủ.
Các nhà khoa học trước đây đã tìm thấy rằng có sự vận chuyển RNA giữa tơ hồng và vật chủ trong quá trình tương tác ký sinh trùng này.
Nghiên cứu mới được công bố trực tuyến trên Science đã mở rộng phạm vi trao đổi này và xem xét các RNA thông tin (mRNA), vật chất di truyền mang thông tin điều phối hoạt động tế bào, trong đó có mã hóa trình tự protein.
Người ta cho rằng mRNA rất mong manh và tồn tại ngắn ngủi, việc vận chuyển nó giữa các loài là điều không tưởng.
Nhưng nhóm của Giáo sư Westwood thấy rằng trong mối quan hệ ký sinh này, hàng ngàn, hàng ngàn phân tử mRNA đã được trao đổi giữa cả vật chủ và cây ký sinh, tạo ra hệ thống mở giữa các loài cho phép chúng được tự do giao tiếp.
Giáo sư Westwood cho biết: "Phát hiện ra hình thức truyền thông tin liên sinh vật này cho ta thấy những tri thức mới không tưởng. Bây giờ, chúng ta đã biết rằng giữa chúng có quá trình chia sẻ thông tin, câu hỏi tiếp theo là: chính xác chúng đang trao đổi thông tin gì với nhau?"
Ông nói thêm: "Thông qua trao đổi này, loài ký sinh trùng này có thể đưa ra mệnh lệnh cho vật chủ, chẳng hạn như giảm khả năng phòng vệ của nó để loài ký sinh này có thể dễ dàng tấn công hơn."

